header
header  
header Trang Chính arrow Tiết Mục Đặc Biệt arrow Tiết Mục Đặc Biệt arrow Bệnh Sạn Thận - Kidney Stone
 
Bệnh Sạn Thận - Kidney Stone In E-mail
Người viết: Bác sĩ Jean Lương Phụng Hoàng   

Nếu bạn đã có một lần mắc phải hội chứng này thì sẽ không bao giờ quên được, vì cơn đau rất đặc biệt của nó.  Bệnh này khá thông thường, hàng năm có đến 600.000 bệnh nhân phải vào phòng cấp cứu chữa trị tại Mỹ.  Và phái nam hay bị hơn là phái nữ.  Tuy nhiên sạn trong thận không phải lúc nào cũng đau, nếu sạn nhỏ có thể tự tan trong nước tiểu, hoặc nằm ở những chỗ không gây đau đớn.

Làm sao trong thận lại có sạn?

Chúng ta nên hiểu sơ qua vị trí và công dụng bộ phận tiểu bài tiết gồm có:  2 quả thận, bằng nắm tay, nằm sau lưng dọc 2 bên xương sống để lọc nước tiểu.

 

Nước tiểu sẽ được dẫn xuống bọng đái qua 2 ống dẫn tiểu nhỏ (ureters), và đi ra ngoài qua 1 ống tiểu nhỏ trong bộ phận sinh dục gọi là urethra.  Sạn thận được thành hình khi những khoáng chất crystal Calcium, Phosphate, Oxalate, uric acid và cystine trong nước tiểu được thaœi ra nhiều, lâu ngày cô đọng lại thành cục sạn, dính trong thành những ống dẫn nước tiểu (xin xem hình).  Thay đổi nồng độ acid hay alkaline trong nước tiểu cũng dễ gây ra sạn.  Sạn có thể nhỏ như hạt cát hoặc lớn như hạt đậu, hay to hơn nữa.


Có 4 loại sạn thận (kidney stones):

  1. Calcium stones:  sạn vôi calcium xảy ra cho 75% đến 85% trường hợp, do sự tổng hợp calcium cùng với oxalate hay phosphate gây ra.  Uống vitamin D nhiều, ăn nhiều thứ có calcium, xài một số thuốc nhuận tiểu (diuretic), một vài bệnh ung thư, bệnh thận, bệnh hyperparathyroidism, bệnh di truyền, bị mổ cắt ruột, hoặc ăn uống có nhiều chất Oxalate trong rau caœi, trái cây, thịt sẽ làm thận sa thaœi nhiều chất calcium, oxalate trong nước tiểu và từ đó làm ra sạn.
  2. Uric acid stones:  Ăn uống có nhiều chất đạm (protein) từ loài vật như thịt bò, heo hay những ai bị bệnh thống phong (gout) sẽ làm chất uric acid tăng trong máu và sa thải nhiều trong nước tiểu gây ra sạn.  Chữa ung thư bằng chemotherapy cũng hay gây ra sạn loại này.
  3. Struvite stones:  Thường hay thấy nơi phụ nữ hay bị nhiễm trùng đường tiểu vì vi trùng sa thaœi chất ammonia, hợp với chất struvite đóng thành sạn.
  4. Cystine stones:  loại này còn hiếm hơn nữa, do bệnh di truyền làm thận sa thaœi nhiều chất cystine.

Yếu tố dễ gây bệnh:

  • Ít uống nước khi trời nóng hoặc lúc làm việc mệt nhọc.
  • Gia đình có ai bị sạn thận hay bệnh nhân đã bị một lần rồi thì rất dễ tái phát.
  • Tuổi ngoài 20-40 và phái nam.  Người Mỹ da trắng bị nhiều hơn.
  • Một số bệnh thận, bệnh di truyền, bệnh nhiễm trùng đường tiểu kinh niên.
  • Ăn uống thịt cã, bộ đồ lòng thú vật nhiều.
  • Ít năng động, hay bị nằm liệt giường.

Triệu chứng bệnh:

Nhiều trường hợp sạn thận không gây đau, chỉ thấy khi làm Xray.  Cơn đau sạn thận rất dữ dội, do sạn làm nghẽn ống tiểu, nước tiểu không chảy xuống, bệnh nhân không thể ngồi nằm nghỉ được mà phaœi đi qua đi lại, khác với bệnh đau lưng thông thường là bệnh nhân sẽ cảm thấy dễ chịu khi nằm nghỉ.  Cơn đau bắt nguồn từ phía sau lưng và đi lần qua ngang hông truyền xuống tới bọng đái hoặc háng.  Sự di chuyển cơn đau vòng qua hông là do sự co thắt cuả ống dẫn nước tiểu ureter để cố gắng đẩy sạn xuống.  Khi nào rơi xuống bọng đái thì hết đau.  Nếu kẹt nửa chừng trong ureter không ra được vì sạn quá lớn thì chỉ có nước vào bệnh viện cấp cứu để chích thuốc giảm đau.  Bệnh nhân cũng có thể tiểu ra máu, hoặc tiểu dắt, bị sốt do nhiễm trùng, buồn nôn mửa do cơn đau hoành hành.  Cũng đừng nên lầm lẫn sạn thận với sạn túi mật.  Hai bệnh này không phải bà con với nhau.  Sạn túi mật thường gây đau vào buổi tối sau bữa ăn đồ mỡ nhiều, bắt đầu từ phía trước bụng bên phải, dưới lồng ngực và có thể đau luôn phía sau lưng, cũng có thể ói mửa nhưng cơn đau không dữ dội.

Cách chẩn đoán:

Khi đau sạn thận thường có máu trong nước tiểu.  Chụp Xray có thể thấy cục sạn.  Nếu không thấy sạn vì không có vôi đóng (như có nhiều chất uric acid) thì sẽ phải làm các thử nghiệm khác như siêu âm, chụp CT scan thì mới thấy được vị trí và xác định coi thận có bị sưng không.  Ðo các chất calcium, uric acid, Bun/creatinin, oxalate trong máu và nước tiểu 24 tiếng đồng hồ sẽ rất giúp ích cho việc chữa trị.  Bác sĩ sẽ khuyên nên lọc nước tiểu tìm cục sạn để đi phân tích.

Chữa trị:

Uống nhiều nước tối thiểu 2-3 lít một ngày thì đa số sạn nhỏ sẽ đi ra ngoài trong nước tiểu và không cần làm gì khác hơn.  Nếu đau nhiều thì uống thuốc giảm đau như Vicodin, Tylenol codein, hay dùng thuốc như Compazine, Phenergan trong trường hợp ói mửa cũng hay thường thấy.  Bác sĩ sẽ cho trụ sinh nếu có triệu chứng nhiễm trùng đường tiểu như sốt, nóng lạnh.  Một số ít trường hợp cần phaœi dùng phẫu thuật sau đây để lấy sạn ra khi sạn quá lớn bị kẹt làm chảy máu, sưng hư thận do nghẽn nước tiểu hoặc nhiễm trùng đường tiểu kinh niên không kềm hãm được bằng trụ sinh.

  • Extracorporeal Shock Wave Lithotripsy (ESWL):  Phương pháp này khá thông dụng hiện thời, bệnh nhân được nằm như trong một bồn tắm có nước, rồi dùng máy bắn shock wave (200-400 lần) vào nơi có sạn.  Sạn sẽ được tan nhỏ và hoà với nước tiểu đi ra.  Bệnh nhân có thể về nhà ngay trong ngày.  Có thể bị biến chứng như đau ở vùng bị bắn, bị bầm da thịt, hoặc có thể đi tiểu ra máu.  Nếu mảnh vụn nhiều thì có thể mất nhiều tuần mới loại ra được hết.
  • Percutaneous nephrolithotomy:  Cái này là phương pháp mổ khi sạn quá lớn không đập bể bằng lithotripsy được.  Bác sĩ sẽ cắt một đường nhỏ ngang hông rồi đút ống vào lấy ra nguyên cục sạn và bệnh nhân phaœi nằm nhà thương vài ngày.
  • Ureteroscopic stone removal:  Phương pháp này dùng một ống nhỏ đi từ ngoài qua urethra vào trong bọng đái lên ureter để gắp ra những cục sạn bị kẹt ở vùng đó mà không cần phải mổ hay cắt da thịt.

Cách phòng ngừa:

Ðã bị cơn sạn thận một lần rồi thì tỷ lệ tái phát rất cao nên việc phòng ngừa rất quan trọng.  Thử nước tiểu đo những chất calcium, oxalate, uric acid, cystine cùng với phân tích sự cấu tạo cục sạn thận nếu bệnh nhân có được đều giúp ích tìm nguyên nhân trị tận gốc.

  • Uống 2-3 lít nước thường xuyên mỗi ngày hoặc nhiều hơn nữa nếu trời nóng.
  • Nếu sạn có nhiều chất calcium và oxalate (đa số trường hợp) thì tránh thức ăn có nhiều oxalate như thịt, thận, gan thú vật, gà, cá anchovies, asparagus, berries, chocolate.  Nói chung là ăn ít thịt và bớt ăn mặn.  Một số nghiên cứu cho thấy là đồ ăn có calcium như sữa, yogurt (không phải calcium viên) cũng nên được tiếp tục vì nó sẽ kết hợp lại với Oxalate trong đồ ăn đi ra ngoài phân, làm giảm chất oxalate loại ra trong nước tiểu gây ra sạn.
  • Thuốc uống phòng ngừa thì tuỳ theo loại sạn thận:
    • Sạn calcium:  HCTZ (hydrochlorothiazide) một loại thuốc làm nhuận tiểu.
    • Sạn uric acid:  Allopurinol (Zyloprim) và thuốc làm nước tiểu bớt acid.
    • Sạn struvite:  chủ yếu là dùng thuốc trụ sinh trị nhiễm trùng đường tiểu kinh niên và thuốc Lithostat.
    • Sạn cystine:  Thuốc Cuprimine sẽ làm giảm chất cystine trong đường tiểu.



Bác Sĩ Jean Lương Phụng Hoàng
Vài Nét Về Tác Giả:

Bác sĩ Jean Lương Phụng Hoàng tốt nghiệp Y khoa tại University of Saint Etienne ở Pháp và tốt nghiệp Chuyên khoa bệnh Nội Thương tại Long Island Jewish Hospital. Hiện bác sĩ Hoàng đang hành nghề với Hamilton Medical Group tại San Jose, California.

Đọc tiếp...>>
Cập nhật ( 25/09/2007 )
 
< Trước   Tiếp >
header header
header Copyright © 2008 Song Manh Inc. All rights reserved.
header