header
header  
header Trang Chính
 
Mổ Nội Soi
Người viết: Bác sĩ Nguyễn Thế Triều Huy, DO   

Cấu tạo: Ruột  

Tổng quát bộ máy tiêu hóa gồm một hệ thống nối liền với nhau, khởi đầu là từ mồm xuống thực quản, bao tử, ruột non, ruột già, tận cùng là hậu môn. Phần đầu của ruột già nối với ruột non, phần dưới của ruột già nối với hậu môn gồm có cả ruột dư và ruột cùng. Ruột già dài khoảng 5 feet hay 1,5 mét được chia làm ba khúc, khúc đầu gọi là khúc lên nối với ruột non gồm cả ruột dư, khúc ngang và khúc xuống nối với hậu môn. Thực phẩm được ăn vào, nhai, nuốt xuống bao tử, đồ ăn được nghiền nát từ từ bóp đẩy xuống ruột non, thẩm thấu các chất bổ dưỡng qua màng ruột non vào máu, phần cặn bã còn lại được đẩy qua ruột già thẩm thấu nốt chất bổ dưỡng và nước còn sót lại, chất cặn bã được đẩy ra ngoài qua đường hậu môn.  

Quy ước giải phẫu ruột già (mổ banh)  

Mỗi năm trên 600.000 ca mổ được thực hiện tại Hoa Kỳ để chữa bệnh ung thư ruột già. Các loại bệnh tại ruột già và hậu môn đòi hỏi phải giải phẫu gồm sưng túi thừa ở ruột già (diverticulitis), lở ruột già (ulcerative colitis), sưng ruột Crohn’s, hoặc những mụn polip mọc trong ruột mà soi ruột không cắt được, ung thư hiền tính hay ác tính, chảy máu ruột và nhiều các bệnh khác nữa...  

Cập nhật ( 09/12/2008 )
Đọc tiếp...
 
Bảo Hiểm Y Tế Liên Bang Cho Người Già - MEDICARE
Người viết: Bác sĩ Trịnh Ngọc Huy, MD   

ImageChương trình y tế Medicare được thiết lâp chính phủ liên bang Hoa từ năm 1960 nhằm mục đích bảo hiểm y tế chăm lo sức khỏe cho người già. Medicare là chương trình y tế dành cho người già trên 65 tuổi, cho những bệnh nhân dưới 65 tuổi mà bị tàn tật khiếm khuyết và cho bệnh nhân bệnh thận cần lọc thận. Ngân quỹ Medicare được cung cấp bởi tiền đóng thuế khi chúng ta đi làm. Mỗi tháng chính phủ trích ra khoảng 1% lương của người đi làm để bỏ vào quỹ Medicare. Tuỳ theo lương của người làm và thời gian làm mà tiền Medicare mỗi tháng đóng góp khác nhau.

Medicare có ba phần A, B và D (part A, part B và part D).

Phần A là phần ngân quỹ trang trải cho nhà thương khi bệnh nhân phải nhập viện, phòng cấp cứu, viện dưỡng lảo khi bệnh nhân bị bệnh không thể chăm sóc ở nhà được. Ngân quỹ phần A có từ tiền thuế mỗi nguời phải đóng khi đi làm. Những người trên 65 tuổi sẽ tự động được Medicare nếu họ hay người hôn phối có đi làm việc và đóng thuế Medicare trong thời gian đi làm. Cho những người nếu không đi làm và không bao giờ đóng thuế Medicare thì họ có thể mua bảo hiểm Medicare bằng cách đóng lệ phí mỗi tháng (Premium). Cho phần A Medicare trả cho hầu hết các phí tổn. Bệnh nhân chỉ trả thêm phần nhỏ phụ trội thí dụ như chỉ phải trả $840 thêm nếu phải nằm bệnh viện trong 60 ngày.

Cập nhật ( 24/05/2008 )
Đọc tiếp...
 
Bệnh Ợ Chua - Heartburn
Người viết: Bác sĩ Hanson Vũ Hiển Nguyễn, Pharm.D.   

ImageỢ chua được dịch từ chữ tiếng Anh là Heartburn. Thật ra Heartburn là một triệu chứng không liên quan gì đến tim (heart) hay tim cháy (heartburn). Và cũng may khi các dịch giả Việt nam dịch chữ Heartburn ra tiếng Việt thì cũng không dịch sát nghĩa là cháy tim hay văn hoa hơn là trái tim nóng bỏng. Ợ chua hay còn đuợc gọi là đầy hơi, khó tiêu, ợ acid, tất cả đều xuất phát từ những triệu chứng của bệnh ợ chua (heartburn).  

Vậy chúng ta thử tìm hiểu bệnh ợ chua là gì, cách chữa trị, phòng chống, cũng như khi nào cần đi bác sĩ. Ðó cũng là nội dung bài viết hôm nay.  

Bệnh ợ chua là gì?  

Ợ chua là một trong những triệu chứng chính của chứng GERD (gastroesophageal reflux disease), nó tạo cho người bệnh cảm giác khó chịu, xốn xang từ vùng ngực dưới và dẫn tới cổ và cổ họng, và đồng thời đi kèm với vị đắng, chua dâng lên từ bao tử lên phần cổ họng và miệng. Ợ chua thường xảy ra sau một bữa ăn no, hay nằm trên giường, hoặc cúi mình xuống sau khi ăn no. Triệu chứng này có thể kéo dài vài phút cho tới vài tiếng đồng hồ.

Cập nhật ( 24/05/2008 )
Đọc tiếp...
 
Mắt Biếc
Người viết: Bác sĩ Hanson Vũ Hiển Nguyễn, Pharm.D.   

Ðôi mắt là đề tài muôn thuơoe cho các nhạc sĩ, thi sĩ để làm nguồn cảm hứng cho các tác phẩm của mình. Thử điểm qua trong kho tàng âm nhạc Việt Nam, những nhạc phẩm mang hình bóng của đôi mắt như “Mắt biếc”, “”Ðôi mắt người Sơn Tây”, “Giọt nước mắt nào”, “Màu mắt nhung” ..., và ông bà ta cũng có những câu nói để tả về những nỗi đau do bệnh tật gây ra như thứ nhất đau mắt, thứ nhì nhức răng. Nhức răng thì ai ai trong chúng ta cũng đã có kinh nghiệm mắc phải mà còn phải xếp thứ nhì sau đau mắt. Thật vậy, vì đôi mắt là cửa sổ của tâm hồn, nên mỗi khi đau mắt, là chúng ta chỉ rất khó chịu và có khi còn thấy cả một màu đen u tối, vì thế tinh thần của chúng ta bị sa sút trầm trọng, và có thể vì thế mà đau mắt được xếp vào hạng nhất. Trong chủ đề của Sống Mạnh kỳ này, chúng ta sẽ lược qua những bệnh đau mắt thông thường và các loại thuốc để chữa trị nó.

A. Bệnh tăng nhãn áp (Glaucoma):

Bệnh được định bệnh bởi sự tăng áp suất trong mắt, áp suất bình thường là 15mm, từ 20mm đến 28mm được xem như là bệnh tăng nhãn áp. Sự gia tăng nhãn áp có thể dẫn đến mù do sự huỷ hoại dĩa thị giác (optic disc). Nhãn áp tăng do sự gia tăng thủy dịch trong mắt hay do đường ống thoát thủy dịch bị chặn lại. Thủy dịch (auqueous humor) chảy chung quanh mống mắt và thoát ra bằng đường ống ở vị trí góc giữa mống mắt và giác mạc (cornea). Nếu góc độ giữa mống mắt và giác mạc lớn hơn 11 độ, thì nhãn áp sẽ gia tăng, và được định bịnh như bệnh tăng nhãn áp góc độ lớn (open-angle glaucoma), còn nếu như góc độ nhỏ hơn 11 độ, và nhãn áp gia tăng, thì được xem như bệnh tăng nhãn áp góc độ hẹp (narrow-angle glaucoma). Có khoảng 5% bệnh nhân được định bệnh tăng nhãn áp góc độ hẹp. Với những bệnh nhân bị bệnh tăng nhãn áp góc độ hẹp, nếu dùng các loại thuốc anticholinergic (như thuốc an thần loại Tricyclic antidepressants) sẽ làm cho mống mắt nở ra gây cản trở các ống thoát nước thủy dịch, và làm cho bệnh trở nên trầm trọng. Vì thế bệnh nhân bị bệnh tăng nhãn áp góc độ hẹp tuyệt đối không được dùng các loại thuốc có tính anticholinergic.

Cập nhật ( 24/05/2008 )
Đọc tiếp...
 
Quyền Tự Quyết Autonomy
Người viết: Bác sĩ Phạm Văn Ngà, MD   

1. Ðại cương:

Ở bất cứ một quốc gia nào, khi bệnh nhân đi khám chữa bệnh đều phải tuân theo những thủ tục, những luật lệ áp đặt cho mình. Hoa Kỳ cũng có những luật lệ về ngành y tế và những quyền lợi cho bệnh nhân mà mỗi người sinh sống ở đây cần phải biết. Những điều lệ đó, không phải cứ ở đây lâu đời là mình biết hết như nhiều người đã hãnh diện phát biểu: “Tôi ở đây từ 75, tôi hiểu hết luật lệ không cần phải nói,” mà phải tìm hiểu và phải học hỏi mới biết được. Ngay cả người Mỹ (da trắng) sinh đẻ ở đây cũng thế thôi! Mỗi người học một ngành và có thể biết rành về luật lệ của ngành mình đang làm, nhưng lại không thể biết rõ về những luật lệ của các ngành khác. Trong phạm vi bài này, chúng tôi xin giới thiệu về một vài khía cạnh của y luật áp dụng tại Mỹ để mọi người có dịp tìm hiểu thêm, đó là quyền tự quyết.

2. Nguyên tắc căn bản của quyền tự quyết:

Dưới y luật Hoa Kỳ, chúng ta có thể hiểu một cách đơn giản là bác sĩ có bổn phận tôn trọng sự tự do chọn lựa của bệnh nhân khi họ đến chữa bệnh với mình, đó là điều tất yếu của quyền tự quyết. Dĩ nhiên sự quyết định đó phải dựa vào một số nguyên tắc căn bản mà trong phạm vi bài này chúng tôi cố gắng trình bày một cách đơn giản và tóm tắt để độc giả hiểu đúng vấn đề và tránh những sự suy diễn lệch lạc có thể đưa đến ngộ nhân và lợi dụng quyền tự quyết để làm lợi cho mình một cách không chính đáng.

Khác với một số quốc gia ở châu Âu và châu Á, quyền tự quyết ở Hoa Kỳ được áp dụng rộng rãi và triệt để hơn. Quyền tự quyết được dịch từ chữ “autonomy” bao gồm những chữ gốc Hy lạp “autos” là tự mình, và “nomos” là luật lệ. Ðây là quyền của bệnh nhân tự chọn lựa cho mình một đường lối trị liệu đúng đắn nhất dựa vào một số điều kiện:

Đọc tiếp...
 
BỆNH TÚI THỪA ÐẠI TRÀNG và VIÊM TÚI THỪA ÐẠI TRÀNG - Colon diverticulosis and col
Người viết: Bác sĩ Phạm Văn Ngà, MD   

1. Ðại cương về bệnh túi thừa đại tràng và viêm túi thừa đại tràng:

Bệnh túi thừa đại tràng là một bệnh khá phổ biến và quan trọng của đại tràng nhưng nhiều người Việt Nam chưa quen thuộc với loại bệnh này. Một trong những lý do chúng ta ít để ý đến bệnh này vì tỷ lệ bệnh cho người Việt Nam cũng không nhiều lắm so với người Tây Phương. Theo thống kê thì người châu Á nói chung có tỷ lệ bệnh túi thừa đại tràng vào khoảng 0,2% nghĩa là cứ 1.000 người dân châu Á thì có 2 người có túi thừa đại tràng. Riêng về người Việt Nam thì hiện nay chưa có thống kê chính xác về tỷ lệ bệnh này, nhưng có lẽ cũng xấp xỉ như những người châu Á khác. Ở Tây phương, người dân có tỷ lệ bệnh cao hơn nhiều, vào khoảng 5% dân chúng ở 40 tuổi, tăng lên 33 đến 50% ở trên 50 tuổi. Có một điều quan trọng nên để ý là tuy chúng ta có tỷ lệ bệnh thấp, nhưng nếu sống ở phương Tây trên mười năm thì tỷ lệ bệnh tăng lên nhiều lần hơn, có lẽ do mình thay đổi cách ăn uống như người bản sứ vậy. Nếu chúng ta chỉ có túi thừa của đại tràng thì gọi là bệnh túi thừa đại tràng (colon diverticulosis), nếu túi thừa bị viêm thì chúng ta gọi là viêm túi thừa đại tràng (colon diverticulitis). Ngoài ra phái nam và phái nữ đều có thể bị bệnh túi thừa và viêm túi thừa đại tràng ngang nhau.

2. Sơ lược về cấu tạo cơ thể học của đại tràng:

Trước khi đi vào chi tiết của bệnh túi thừa đại tràng và viêm túi thừa đại tràng, chúng ta ôn lại về cấu tạo của đại tràng. Ðại tràng còn gọi là ruột già là đoạn ruột gần cuối và rộng nhất của ống tiêu hóa. Ống tiêu hóa bắt đầu là miệng, thực quản, dạ dày hay bao tử, ruột non, đến ruột già và sau cùng là trực tràng và hậu môn. Ruột già dài vào khoảng 1 mét, tạo thành một cái khung của bụng đi từ bụng dưới bên phải, đi lên đến phần dưới sườn phải thì rẽ ngang sang bên trái dưới sườn trái và đi xuống đến gần bụng dưới bên trái thì đi ngoặt vào trong và xoắn hình chữ S (cho nên đoạn ruột này gọi là đại tràng sigma) và tận cùng vào trực tràng và hậu môn như đã nói ở trên. Nhìn dưới kính hiển vi thì vách đại tràng gồm có bốn lớp: lớp trong cùng là niêm mạc có lớp tế bào lạt và các tuyền, có nhiêm vụ phân tiết chất nhờn và hấp thụ nước từ các chất trong ruột (phân và chất bã), bên dưới là lớp mô sợi gọi là lớp dưới niêm mạc, dưới nữa là lớp cơ trơn, một loại cơ tự động làm ruột co bóp nhịp nhàng (gọi là nhu động) để giúp đẩy các chất trong ruột đi ra ngoài, và ngoài cùng nữa là lớp ngoại mạc cấu tạo bởi mô sợi có nhiều mạch máu có nhiệm vụ làm chắc thành ruột và dinh dưỡng cho ruột. Ruột già hay đại tràng không có nhiệm vụ hấp thụ chất bổ dưỡng như ruột non, nhưng vẫn hấp thụ được chất nước và các muối khoáng từ chất cặn bã (phân) sau khi đã được ruột non đẩy vào ruột già. Sự hấp thụ nước càng nhiều nếu phân càng ở lâu trong đại tràng, hoặc vì phân có thể tích nhỏ, ít chất xơ, hoặc thiếu nước do uống không đủ nước, hoặc sự co thắt của lớp cơ trơn yếu vì già cả thiếu vận động hay uống nhiều thuốc men, và như thế phân càng khô và càng khó bài tiết ra ngoài làm thành bệnh táo bón. Ðể tránh tình trạng này, thường phân phải chứa đủ lượng chất xơ từ rau và trái cây, và đủ lượng nước, như thế thể tích phân sẻ nhiều hơn và làm gia tăng nhu động của ruột để dễ dàng đưa phân ra ngoài. Ðây là một điều rất căn bản để tìm hiểu về bệnh túi thừa đại tràng.

Cập nhật ( 24/05/2008 )
Đọc tiếp...
 
Các bài khác...
<< Bắt đầu < Trước 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 Tiếp > Cuối >>

Kết quả 15 - 21 / 143
header
Bài Mới Nhất
header
Bài Đọc Nhiều Nhất
header Copyright © 2008 Song Manh Inc. All rights reserved.
header